UAE rời OPEC: Tác động đến vùng Vịnh, thị trường năng lượng và hơn thế n
Virginia Pietromarchi
UAE chính thức rời OPEC sau nhiều thập kỷ, mở ra hướng đi độc lập trong chính sách dầu mỏ giữa bối cảnh khủng hoảng năng lượng leo thang do xung đột tại Trung Đông. Động thái này phản ánh bất đồng về hạn ngạch khai thác, rạn nứt địa chính trị giữa Abu Dhabi và Riyadh, đồng thời có thể tái định hình cục diện thị trường năng lượng toàn cầu sau chiến tranh.
Sau nhiều thập kỷ là thành viên, Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) đã quyết định rời khỏi Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) để tập trung vào 'lợi ích quốc gia' và tự vạch ra lộ trình riêng. Các nhà quan sát cho rằng động thái này là một đòn giáng mạnh vào OPEC có trụ sở tại Vienna, nhưng sẽ không đánh dấu sự kết thúc hoàn toàn của tổ chức này.
Quyết định rời OPEC của UAE diễn ra sau nhiều năm bất mãn công khai với chính sách của OPEC về việc giới hạn sản lượng của các nước thành viên như một cách để kiểm soát giá cả và ổn định thị trường.
Quốc gia này đã đầu tư hàng tỷ USD để nâng công suất khai thác dầu từ 3 triệu thùng lên 5 triệu thùng/ngày vào năm 2027. Khi năng lực sản xuất gia tăng, UAE đã yêu cầu một hạn ngạch lớn hơn so với mức được phân bổ.
Động thái này diễn ra trong thời điểm đặc biệt khó khăn khi khu vực và phần còn lại của thế giới đang vật lộn với cuộc khủng hoảng năng lượng do cuộc chiến tranh Mỹ-Israel với Iran bắt đầu từ ngày 28/2 gây ra. Tehran đã đáp trả bằng cách tấn công Israel, các tài sản quân sự của Mỹ và các cơ sở hạ tầng khác ở các quốc gia vùng Vịnh, đồng thời phong tỏa phần lớn lối đi qua eo biển Hormuz - nơi 20% nguồn cung dầu thô và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) của thế giới được vận chuyển từ các nhà sản xuất vùng Vịnh.
Trước khi chiến tranh nổ ra, công suất khai thác của UAE đã tăng lên 4,8 triệu thùng/ngày, nhưng theo thỏa thuận với OPEC, nước này chỉ được phép khai thác 3,2 triệu thùng/ngày.
Các chuyên gia cho biết việc UAE rời OPEC khó có tác động ngay lập tức đến thị trường, do xuất khẩu dầu từ UAE và các nước láng giềng hiện đang bị hạn chế bởi sự kiểm soát của Iran đối với eo biển Hormuz. UAE vẫn có thể bán một phần dầu thông qua cảng Fujairah, nằm trên vịnh Oman, giúp nước này lách qua tuyến đường thủy này. Năm ngoái, UAE đã xuất khẩu 1,7 triệu thùng dầu thô và nhiên liệu tinh chế qua tuyến này.
Tuy nhiên, mọi chuyện có thể thay đổi nếu cuộc xung đột kết thúc với một thỏa thuận giữa Iran và Mỹ cho phép nối lại tự do hàng hải qua eo biển. Hiện tại, tương lai còn bỏ ngỏ khi Mỹ tiếp tục phong tỏa hải quân các cảng của Iran và Iran từ chối cho phép tàu thuyền mang cờ nước ngoài đi qua eo biển. Iran cũng đã ám chỉ muốn duy trì đòn bẩy đối với eo biển sau xung đột thông qua hệ thống thu phí.
Các nhà phân tích cho rằng, nếu giao thông trở lại mức trước chiến tranh, UAE có thể đưa ra thị trường thêm 1,6 triệu thùng/ngày từ sản lượng dư thừa, tương đương khoảng 1,5% nguồn cung dầu toàn cầu, đủ để tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường năng lượng thế giới.
Ông Kingsmill Bond, chiến lược gia năng lượng tại think tank Ember Future cho rằng động thái của UAE là khôn ngoan. 'Họ đang chuẩn bị cho giai đoạn sau chiến tranh, vì hiện tại nhu cầu dầu đã đạt đỉnh và chúng ta đang bước vào môi trường mới – họ muốn tự do khỏi sự ràng buộc của OPEC', Bond nói và thêm rằng UAE đang chuẩn bị cho một thế giới sau chiến tranh Iran, nơi nhu cầu dầu suy giảm và sức mạnh của OPEC trong việc duy trì kiểm soát và kỷ luật sẽ yếu đi.
Chiến lược này trái ngược với mục tiêu của Saudi Arabia là duy trì sản lượng của các nước thành viên OPEC ở mức hạn chế nhằm giữ giá dầu cao trong dài hạn.
Ông Mohammad al-Sabban, cựu cố vấn dầu mỏ cấp cao của Saudi Arabia, cho rằng việc UAE rời OPEC là quyết định chính trị dưới ảnh hưởng của phương Tây, vốn từ lâu đã tìm cách gây chia rẽ trong cartel. Tổng thống Mỹ Donald Trump nổi tiếng là thù địch với OPEC và từng cáo buộc cartel này 'hút máu phần còn lại của thế giới' bằng cách thổi giá dầu.
OPEC đã chứng minh được khả năng thích ứng trong quá khứ. Được thành lập vào những năm 1960 bởi Saudi Arabia, Kuwait, Iran, Iraq và Venezuela, tổ chức này đã tồn tại qua nhiều thời kỳ khó khăn và các vụ rút lui của Qatar, Indonesia, Ecuador và Angola. Ông Robin Mills, thành viên không thường trực tại Trung tâm Chính sách Năng lượng Toàn cầu của Đại học Columbia, nhận định: 'OPEC sẽ ít ảnh hưởng hơn trước, nhưng nó sẽ không biến mất'.
Trong lịch sử, OPEC từng gây chấn động toàn cầu năm 1973 khi liên minh các nước Arab thành viên thực hiện lệnh cấm vận đối với các nước ủng hộ Israel. Thời điểm đó, nhóm này chiếm một nửa thị trường dầu mỏ toàn cầu. Ngày nay, khi các quốc gia khác như Mỹ và Na Uy trở thành những nhà sản xuất dầu lớn, thị phần của OPEC đã giảm xuống còn 33% và liên minh này mở rộng hợp tác với 12 quốc gia sản xuất dầu khác thông qua OPEC+.
Một số nhà phân tích cho rằng việc UAE rời OPEC không chỉ liên quan đến thị trường. Theo ông Anas Abdoun, chuyên gia tư vấn quốc tế về năng lượng và các vấn đề toàn cầu, sự ra đi này là dấu hiệu rõ rệt của một rạn nứt sâu sắc trong khu vực giữa Riyadh và Abu Dhabi, giữa hai tầm nhìn không tương thích về trật tự vùng Vịnh. UAE chịu nhiều đòn tấn công từ Iran hơn bất kỳ quốc gia vùng Vịnh nào trong cuộc chiến hiện tại và trong khi Saudi Arabia, Qatar, Oman ủng hộ cách tiếp cận ngoại giao, UAE lại thúc đẩy các chính sách quyết liệt hơn. UAE cũng là quốc gia Arab đầu tiên bình thường hóa quan hệ với Israel thông qua Hiệp định Abraham năm 2020.
Cuối cùng, ông Abdoun lập luận rằng 'kẻ thua cuộc thực sự' từ quyết định của UAE là 'ý tưởng về năng lực tập thể của các quốc gia sản xuất nhiên liệu Arab trong việc định hình trật tự năng lượng toàn cầu'.