Iran dùng eo biển Hormuz làm vũ khí kinh tế, nhưng sức mạnh này có hạn
Mohammad Reza Farzanegan
Iran đã biến eo biển Hormuz thành vũ khí kinh tế đáng gờm, với lưu lượng tàu qua eo này giảm tới 96% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, việc lạm dụng công cụ này có thể làm xói mòn lợi thế dài hạn của Tehran khi thúc đẩy các nước tìm giải pháp thay thế.
Iran đã biến khả năng hạn chế tàu thuyền qua eo biển Hormuz thành vũ khí kinh tế lợi hại trong cuộc chiến do Mỹ và Israel áp đặt. Dữ liệu từ IMF PortWatch cho thấy trong 7 ngày kết thúc vào ngày 2/8, trung bình chỉ có khoảng 4 tàu mỗi ngày đi qua eo biển, so với khoảng 90 tàu trong tuần tương ứng của năm 2025. Sản lượng vận chuyển ước tính giảm từ 3,5 triệu tấn xuống còn khoảng 143.000 tấn mỗi ngày, tương đương mức giảm khoảng 96%.
Đây không phải là sự sụp đổ tạm thời mà là sự gián đoạn kéo dài. Kể từ ngày 28/2, cả lưu lượng tàu và sản lượng ước tính đều ở mức thấp hơn nhiều so với cùng kỳ năm trước, chỉ có những đợt phục hồi ngắn. Tehran đã chứng minh rằng họ có thể gây gián đoạn nghiêm trọng cho giao thương, và câu hỏi không còn là liệu Iran có thể làm gián đoạn thương mại qua Hormuz hay không, mà là họ có thể chuyển sự gián đoạn đó thành đòn bẩy chính trị hiệu quả đến đâu và trong bao lâu.
Theo khung lý thuyết của các nhà khoa học chính trị Henry Farrell và Abraham Newman, các quốc gia có thể biến quyền kiểm soát các nút trung tâm trong mạng lưới quốc tế thành sức mạnh cưỡng chế. Tại Hormuz, nút quan trọng này mang tính vật lý, khi địa lý cho Iran lợi thế trên hành lang mà các nhà sản xuất năng lượng, công ty vận tải biển và các nền kinh tế nhập khẩu vẫn phụ thuộc nặng nề.
Quy mô phụ thuộc đó cho thấy đòn bẩy của Tehran. Năm 2025, gần 20 triệu thùng dầu thô và sản phẩm dầu mỏ đi qua Hormuz mỗi ngày, tương đương khoảng 1/4 thương mại dầu mỏ đường biển toàn cầu. Khoảng 80% lượng dầu đó đến châu Á, trong đó Trung Quốc và Ấn Độ nhận 44%. Qatar và UAE cũng vận chuyển khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) tương đương gần 1/5 thương mại LNG toàn cầu qua Hormuz, với không có tuyến đường thay thế thực tế nào.
Hiệu ứng kinh tế bắt đầu trước khi có sự đóng cửa chính thức. Các công ty vận tải và bảo hiểm phản ứng với rủi ro nhận thức cũng như các cuộc tấn công thực tế. Chỉ riêng mối đe dọa từ tên lửa, thủy lôi, máy bay không người lái hoặc bắt giữ tàu có thể làm tăng phí bảo hiểm, giá cước vận chuyển và thời gian chờ đợi. Nghiên cứu công bố trên Nature Communications cho thấy sự gián đoạn tại các điểm nghẽn hàng hải truyền tải tổn thất kinh tế thông qua chậm trễ, định tuyến lại, chi phí bảo hiểm và gián đoạn sản xuất.
Iran có thể gây áp lực lên nhiều đối tượng cùng lúc. Các quốc gia vùng Vịnh đối mặt rủi ro về doanh thu xuất khẩu, cảng và hậu cần. Các nhà nhập khẩu lớn ở châu Á như Ấn Độ phải chịu chi phí năng lượng cao hơn và thiếu hụt nguồn cung. Mỹ nhập khẩu tương đối ít dầu qua Hormuz, nhưng vẫn bị ảnh hưởng bởi giá năng lượng toàn cầu và chi phí quân sự bảo vệ hàng hải. Đòn bẩy mạnh nhất của Tehran có thể đến gián tiếp khi thúc đẩy các chính phủ vùng Vịnh và nhà nhập khẩu châu Á gây áp lực buộc Washington giảm leo thang.
Hậu quả còn mở rộng đến các lĩnh vực ít thấy hơn, bao gồm cạnh tranh trí tuệ nhân tạo. Các quốc gia vùng Vịnh đang đầu tư mạnh vào trung tâm dữ liệu và cơ sở hạ tầng điện toán, với lợi thế năng lượng rẻ. Bằng cách tăng giá năng lượng và rủi ro cho cơ sở hạ tầng vùng Vịnh, sự gián đoạn tại Hormuz có thể đẩy chi phí mở rộng năng lực AI lên cao, làm suy yếu chiến lược đa dạng hóa kinh tế.
Hormuz cũng vận chuyển các mặt hàng ít được chú ý hơn dầu mỏ. Nghiên cứu trên Nature Food cho thấy nhiều nền kinh tế nông nghiệp lớn phụ thuộc nặng nề vào phân bón xuất khẩu qua eo biển. Ấn Độ nhập khẩu khoảng một nửa lượng amoniac và phân đạm, khoảng 9 triệu tấn, từ các nhà sản xuất vùng Vịnh. Sự gián đoạn sẽ kết hợp thiếu phân bón với chi phí khí đốt và vận chuyển tăng, làm tăng rủi ro cho năng suất cây trồng và giá lương thực trong ngắn hạn.
Helium là một ví dụ khác về sự phụ thuộc ít thấy. Qatar và UAE cung cấp helium dùng trong sản xuất chất bán dẫn, chụp ảnh y tế, nghiên cứu khoa học và công nghệ sạch. Helium khó lưu trữ, năng lực hóa lỏng tập trung và ít chất thay thế. Nhiều nền kinh tế chiếm hơn 60% xuất khẩu mạch tích hợp toàn cầu phụ thuộc vào helium qua Hormuz, liên kết khủng hoảng khu vực với chuỗi cung ứng sản xuất tiên tiến và y tế ở châu Á.
Những điểm yếu này mang lại cho Iran lợi thế mặc cả, nhưng cũng xác định giới hạn sức mạnh. Thứ nhất, sự gián đoạn gây hại cho chính Iran. Xuất khẩu dầu mỏ, nhập khẩu lương thực và thương mại hàng hải của Iran phụ thuộc nặng vào các tuyến đường thủy phía nam. Ả Rập Saudi và UAE có đường ống có thể chuyển hướng khoảng 3,5-5,5 triệu thùng/ngày tránh Hormuz. Tuyến Jask của Iran nằm ngoài eo biển hầu như không hoạt động. Khoảng 160 triệu trong tổng số 170 triệu tấn thương mại nước ngoài hàng năm của Iran, tức 94%, đi qua các cảng phía nam. Các cảng phía bắc chỉ xử lý khoảng 4% và khó vượt quá 10-15% ngay cả trong khủng hoảng.
Thứ hai, Iran có thể làm cho hàng hải nguy hiểm, nhưng duy trì sự gián đoạn đó là tốn kém. Đánh giá của Dịch vụ Nghiên cứu Quốc hội Mỹ kết luận Iran có thể làm gián đoạn vận chuyển bằng thủy lôi, tàu cao tốc, tàu ngầm, tên lửa và máy bay, nhưng lực lượng Mỹ có thể khôi phục giao thông sau đó, dù có thể mất nhiều ngày, tuần hoặc tháng. Lợi thế của Iran nằm ở việc áp đặt sự không chắc chắn và chậm trễ, nhưng sự không chắc chắn cũng gây hại cho nền kinh tế của chính họ. Chi tiêu quân sự của Iran năm 2025 chỉ khoảng 2% GDP, so với 3% ở Mỹ và 5-8% ở Kuwait, Oman, Ả Rập Saudi và Israel.
Thứ ba, việc sử dụng Hormuz như vũ khí nhiều lần sẽ thúc đẩy sự thích nghi. Các nhà sản xuất năng lượng GCC sẽ có động lực mở rộng đường ống đến Biển Đỏ và Vịnh Oman. Các nước nhập khẩu sẽ đa dạng hóa nhà cung cấp, đầu tư dự trữ chiến lược và phát triển nguồn LNG, phân bón và vật liệu quan trọng thay thế. Sau khi Nga xâm lược Ukraine, các chính phủ, đặc biệt ở EU, coi điện tái tạo như tài sản an ninh. Cơ quan Năng lượng Quốc tế đã nâng dự báo 5 năm về mở rộng công suất tái tạo toàn cầu thêm gần 30%.
Những điều chỉnh sẽ diễn ra dần dần. Các giải pháp thay thế không thể nhanh chóng thay thế dầu trong vận tải, LNG trong một số hệ thống điện, khí đốt trong sản xuất phân bón hay helium trong các ứng dụng chuyên dụng. Các nước thu nhập thấp cũng đối mặt ràng buộc tài chính và thể chế. Dù vậy, tình trạng bất an kéo dài củng cố lý do kinh tế cho các dự án giảm phụ thuộc vào Hormuz.
Tehran phải đối mặt với sự đánh đổi khó khăn. Sự gián đoạn hạn chế có thể làm tăng chi phí của áp lực quân sự Mỹ, chia rẽ liên minh đối lập và tạo không gian mặc cả về trừng phạt và an ninh khu vực. Nhưng sự gián đoạn kéo dài sẽ làm tổn hại nền kinh tế Iran, làm xa lánh các đối tác châu Á như Trung Quốc và đẩy nhanh các khoản đầu tư làm suy yếu đòn bẩy tương lai. Hormuz là vũ khí kinh tế mạnh, nhưng hiệu quả của nó có thời hạn sử dụng. Mỗi lần Iran sử dụng vũ khí này mạnh tay hơn, họ lại tạo thêm lý do để người khác giảm phụ thuộc vào eo biển, và vũ khí đó sẽ nhanh chóng cùn đi.