Mỹ có thể hủy thị thực hàng loạt của người xin tị nạn
Federica Marsi
Chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump công bố kế hoạch thu hồi thị thực phi di dân B-1, B-2 đối với người nước ngoài đã hoặc đang nộp đơn xin tị nạn, được giới chuyên gia đánh giá là đợt hủy thị thực hàng loạt lớn nhất trong lịch sử nước này. Động thái có thể ảnh hưởng tới khoảng 200.000 người, nằm trong chiến dịch siết chặt nhập cư rộng lớn của ông Trump. Các nhóm nhân quyền lo ngại chính sách vi phạm quyền theo thủ tục pháp lý và có thể gây ra làn sóng tranh chấp pháp lý.
Chính quyền của Tổng thống Mỹ Donald Trump đã thông báo kế hoạch thu hồi thị thực phi di dân đối với người nước ngoài đã hoặc đang nộp đơn xin tị nạn tại Mỹ. Theo các chuyên gia, đây có thể là đợt hủy thị thực hàng loạt lớn nhất trong lịch sử nước này.
Bộ Ngoại giao Mỹ sẽ thu hồi thị thực B-1 và B-2 được cấp từ năm 2016 đến năm 2026 cho những người sở hữu đã từng hoặc hiện đang xin tị nạn. Thị thực phi di dân B-1 và B-2 được cấp cho mục đích công tác và du lịch.
Ngày 25/8, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Tommy Pigott cho biết biện pháp này nhắm vào “những người nước ngoài đến Mỹ với danh nghĩa khách lưu trú ngắn hạn, nhưng sau đó nộp đơn xin tị nạn để ở lại vĩnh viễn”.
Ông Pigott không nêu rõ số lượng thị thực sẽ bị thu hồi, nhưng hãng tin AP dẫn tài liệu của Bộ Ngoại giao và hai quan chức Mỹ ước tính có tới 200.000 người có thể bị ảnh hưởng.
Vì sao chính quyền Trump siết chặt nhập cư?
Động thái này là một phần trong chiến dịch siết chặt nhập cư rộng lớn hơn của ông Trump, vốn được đẩy mạnh trong nhiệm kỳ tổng thống thứ hai của ông.
Chương trình chống nhập cư của ông Trump bao gồm thu hồi thị thực và thẻ xanh, cùng chiến dịch trục xuất quyết liệt, trong đó có các cuộc đột kích kiểu quân đội vào cộng đồng người nhập cư và nơi làm việc của các cơ quan liên bang như Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan Mỹ (ICE). Các nhóm nhân quyền cho rằng những hoạt động này vi phạm quyền tự do ngôn luận và quyền theo thủ tục pháp lý. Trong một loạt cuộc đột kích tại Minneapolis đầu năm nay, một phụ nữ đã bị nhân viên ICE bắn chết.
Chính quyền Trump cũng đã thực hiện các bước nhằm hạn chế số người được hưởng “quyền công dân theo nơi sinh”, một quyền được hiến pháp bảo vệ, cho phép trẻ em sinh ra tại Mỹ tự động trở thành công dân nước này.
Sắc lệnh hành pháp ông Trump ký ngay sau khi bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai vào tháng 1/2025 nêu rõ: nếu một phụ huynh “có mặt bất hợp pháp tại Mỹ” và người còn lại không phải là công dân hoặc “thường trú nhân hợp pháp tại thời điểm đứa trẻ chào đời”, thì đứa trẻ không thể được hưởng quyền công dân theo nơi sinh. Sắc lệnh cũng quy định nếu một phụ huynh có mặt hợp pháp nhưng tạm thời qua thị thực du lịch, du học hoặc lao động, và người còn lại không phải công dân Mỹ, đứa trẻ cũng không được hưởng quyền này.
Tuy nhiên, hồi tháng 7/2026, Tòa án Tối cao Mỹ đã bác bỏ sắc lệnh trên. Tháng này, ông Trump ký sắc lệnh mới nhắm vào “du lịch sinh con” và một sắc lệnh khác mở rộng các đối tượng không đủ điều kiện hưởng quyền công dân theo nơi sinh. Các tổ chức nhân quyền tại Mỹ đã khởi kiện pháp lý tại bang New Hampshire.
Trong một diễn biến riêng đầu tháng này, Bộ Ngoại giao Mỹ đã thu hồi hơn 175.000 thị thực của người nước ngoài, chủ yếu vì bị cáo buộc hoạt động tội phạm, vi phạm thị thực, gian lận, kêu gọi bạo lực hoặc các hành vi bị coi là đe dọa an ninh quốc gia.
Chính quyền Trump cũng thắt chặt các hạn chế đối với người xin thị thực, bao gồm đình chỉ cấp thị thực mới cho công dân 75 quốc gia. Tuần trước, một thẩm phán liên bang đã bác bỏ chính sách này, cho rằng nó vi phạm luật di trú liên bang vì phân biệt đối xử dựa trên quốc tịch.
Vì sao Mỹ nhắm vào thị thực B-1 và B-2?
Theo quy trình thông thường, người xin thị thực B-1 hoặc B-2 phải xác nhận sẽ không xin tị nạn tại Mỹ và phải cung cấp bằng chứng cho thấy họ có ý định trở về nước. Tuy nhiên, một số người vẫn nộp đơn xin tị nạn sau khi vào Mỹ.
Thứ trưởng Ngoại giao Christopher Landau chỉ trích việc dùng thị thực du lịch và công tác làm con đường xin tị nạn. “Người dân Mỹ và trên toàn thế giới đã quá ngán ngẩm với những đơn xin tị nạn giả tạo. Tị nạn không phải là kẽ hở để lách luật di trú”, ông viết trên mạng xã hội X.
Khác với việc hủy hơn 175.000 thị thực hồi đầu tháng, đợt thu hồi lần này nhắm vào những người không vi phạm pháp luật Mỹ.
Động thái này có thể tác động ra sao?
Bà Rut Bermejo Casado, nhà nghiên cứu về chính sách di cư và tị nạn, giảng viên Đại học Rey Juan Carlos (Madrid, Tây Ban Nha), lưu ý rằng việc thu hồi thị thực phi di dân không đồng nghĩa với việc chấm dứt đơn xin tị nạn.
Những người vào Mỹ bằng thị thực công tác hoặc du lịch rồi xin tị nạn sau đó sẽ có tư cách pháp lý dựa trên quy trình tị nạn đang chờ xử lý, thay vì thị thực ban đầu. Do đó, “họ sẽ mất tư cách khách lưu trú tạm thời, nhưng không nhất thiết bị trục xuất ngay chỉ vì thị thực bị thu hồi. Quyền theo đuổi đơn xin tị nạn của họ thường vẫn được giữ nguyên cho đến khi có phán quyết”, bà Bermejo Casado nói.
Điều này có nghĩa là nhiều người xin tị nạn sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào đơn xin tị nạn của họ để ở lại Mỹ. “Nếu đơn bị từ chối, họ sẽ không còn bất kỳ tư cách phi di dân nào để dựa vào”, bà nói.
Thứ hai, việc thu hồi thị thực có thể dẫn đến tranh chấp pháp lý về việc liệu chính phủ có đang trừng phạt bất công những người thực hiện quyền được bảo vệ theo luật tị nạn Mỹ hay không. “Mặc dù nhánh hành pháp có thẩm quyền rộng rãi trong việc cấp và thu hồi thị thực, các tòa án có thể được yêu cầu xem xét các vấn đề về quy trình theo luật định và luật hành chính”, bà Bermejo Casado nhận định.
Thứ ba, chính sách này có thể ngăn cản các đơn xin tị nạn trong tương lai từ những người nhập cảnh bằng thị thực du lịch hoặc công tác. “Ngay cả khi không dẫn đến trục xuất ngay lập tức, biện pháp này cho thấy một sự thay đổi lớn theo hướng coi việc nộp đơn xin tị nạn sau khi nhập cảnh là bằng chứng cho thấy thị thực tạm thời đã được sử dụng không đúng mục đích”, bà Bermejo Casado nói.
“Theo nghĩa đó, chính sách này có thể được thiết kế như một biện pháp răn đe và tuyên bố chính trị hơn là cơ chế trục xuất ngay lập tức”.
Bà Bermejo Casado cho hay việc xác định chính sách áp dụng cho những ai sẽ cần sự đối chiếu dữ liệu rộng rãi giữa Bộ Ngoại giao, Bộ An ninh Nội địa và các tòa án di trú, điều bà mô tả là “gánh nặng hành chính”.
Quốc tịch nào có thể bị ảnh hưởng nhiều nhất?
Bộ Ngoại giao Mỹ chưa công bố chi tiết quốc tịch của những người xin tị nạn sau khi nhập cảnh bằng thị thực B-1 hoặc B-2, và thông tin này cũng không có sẵn công khai.
Tuy nhiên, bà Bermejo Casado cho rằng các nhóm có khả năng bị ảnh hưởng nhiều nhất có thể tương tự như những nhóm có số đơn xin tị nạn lớn nhất trong những năm gần đây.
Theo số liệu của Bộ An ninh Nội địa Mỹ, các quốc tịch có đơn xin tị nạn được chấp thuận nhiều nhất trong những năm gần đây gồm các nước Trung và Nam Mỹ như Venezuela, El Salvador, Guatemala và Honduras, cùng một số nước khác như Trung Quốc, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Ai Cập.
Dữ liệu từ Văn phòng Điều hành Xét duyệt Di trú (EOIR) thuộc Bộ Tư pháp Mỹ cho thấy các đơn xin tị nạn từ công dân Haiti, Ấn Độ, Cuba và Mexico phần lớn bị từ chối.
Tuy nhiên, bà Bermejo Casado nhấn mạnh rằng tác động thực tế sẽ phụ thuộc vào thành phần của những người xin tị nạn ban đầu nhập cảnh bằng thị thực B-1 và B-2. “Một số quốc tịch tạo ra khối lượng đơn xin tị nạn lớn qua đường vượt biên trái phép thay vì quá hạn thị thực hoặc thay đổi tình trạng, nghĩa là họ có thể ít bị ảnh hưởng hơn so với số liệu thống kê tị nạn tổng hợp cho thấy”, bà nói.