Zimbabwe bồi thường cho nông dân châu Âu: Sự bất công kép trong vấn đề đất đai
Tafi Mhaka
Chính phủ Zimbabwe tuyên bố trả lại 67 trang trại cho công dân châu Âu bị tịch thu trong cải cách ruộng đất, động thái này vấp phải chỉ trích vì ưu tiên quyền lợi người da trắng trong khi người dân bản địa bị tước đoạt đất đai từ thời thuộc địa không được bồi thường. Sự bất đối xứng trong cấu trúc pháp lý quốc tế khiến yêu sách của châu Âu được bảo vệ còn nạn nhân thuộc địa bị gạt ra ngoài lề.
Ngày 7/5, Bộ trưởng Nông nghiệp Zimbabwe, Anxious Masuka, tuyên bố chính phủ sẽ trả lại 67 trang trại cho công dân Đan Mạch, Đức, Hà Lan và Thụy Sĩ - những người từng bị tịch thu đất trong chương trình cải cách ruộng đất của nước này. Các trang trại này được bảo vệ theo hiệp định bảo hộ đầu tư song phương ký giữa Zimbabwe và bốn quốc gia châu Âu trước khi xảy ra các vụ tịch thu đất.
Động thái này nằm trong nỗ lực của Tổng thống Emmerson Mnangagwa nhằm khôi phục quan hệ với các chính phủ phương Tây và tổ chức tài chính quốc tế, sau hơn hai thập kỷ khủng hoảng, trừng phạt, cô lập và vỡ nợ một phần do chương trình cải cách ruộng đất cấp tốc đầu những năm 2000.
Zimbabwe đang tái cơ cấu khoản nợ nước ngoài khoảng 11,7 tỷ USD, trong đó 7,7 tỷ USD nợ các chủ nợ đa phương và song phương. Ngày 20/5, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã phê duyệt chương trình giám sát để hỗ trợ cải cách và tái cơ cấu nợ. Giải quyết tranh chấp liên quan đến cải cách ruộng đất đã trở thành trọng tâm của quá trình tái hội nhập này.
Tháng 7/2020, Zimbabwe ký thỏa thuận bồi thường 3,5 tỷ USD cho các nông dân da trắng trước đây về cơ sở hạ tầng và cải tạo trên đất bị thu hồi. Năm ngoái, nước này bắt đầu bồi thường cho nông dân nước ngoài được bảo vệ theo hiệp ước, bao gồm các nguyên đơn từ Đức, Thụy Sĩ và Bỉ.
Sự phát triển này phơi bày mâu thuẫn sâu sắc trong trật tự toàn cầu về quyền sở hữu đất đai tại các thuộc địa cũ. Yêu sách của châu Âu phát sinh từ tái phân phối hậu thuộc địa được coi là cấp bách, có thể thực thi và đáng tôn trọng, trong khi yêu sách của người châu Phi từ tước đoạt thuộc địa phần lớn nằm ngoài khuôn khổ pháp lý và đạo đức tương tự.
Việc tước đoạt đất đai thuộc địa tạo ra quyền sở hữu đất cho người da trắng ở Rhodesia chưa bao giờ nhận được sự khẩn trương như việc khôi phục yêu sách của châu Âu sau tái phân phối hậu thuộc địa. Khi Zimbabwe giành độc lập vào tháng 4/1980, không có cơ chế nào buộc Anh, Rhodesia hay những người hưởng lợi phải bồi thường cho người châu Phi bị tước đoạt thông qua chinh phục, luật phân biệt chủng tộc và cưỡng bức di dời.
Công ty Nam Phi Anh (BSAC) của Cecil John Rhodes nhận được hiến chương hoàng gia từ Anh vào tháng 10/1889, đẩy nhanh mở rộng định cư của người da trắng. Chiến tranh 1893 chống lại vương quốc Ndebele của Vua Lobengula mở ra các khu vực rộng lớn cho người định cư. Sau năm 1893, lực lượng BSAC tịch thu gia súc quy mô lớn ở Matabeleland, làm suy yếu nền kinh tế địa phương. Đến năm 1958, khoảng 207.000 người châu Âu ở Rhodesia kiểm soát gần 48 triệu mẫu đất nông nghiệp màu mỡ, trong khi 2,55 triệu người châu Phi chỉ có 41,95 triệu mẫu đất nghèo hơn, quá tải và kém canh tác.
Luật sở hữu đất thuộc địa, bao gồm Đạo luật Phân bổ Đất đai 1930, không bao giờ công nhận quyền sở hữu của người châu Phi ngang bằng với người định cư. Di sản mất cân bằng này vẫn định hình phản ứng toàn cầu đối với vấn đề đất đai của Zimbabwe nhiều thập kỷ sau độc lập.
Hiệp định đầu tư song phương giữa Zimbabwe và các quốc gia nước ngoài cho phép nhà đầu tư được bảo vệ tìm kiếm bồi thường khi tài sản bị trưng thu. Các trang trại do người châu Âu sở hữu bị tịch thu trong cải cách ruộng đất cấp tốc đã đi vào một hệ thống quốc tế với cơ chế trọng tài, thực thi hiệp ước và áp lực ngoại giao.
Người châu Phi bị tước đoạt dưới thời thuộc địa không bao giờ có quyền tiếp cận bồi thường quốc tế nào. Sự bất đối xứng này mang tính cấu trúc: nông dân châu Âu có thể viện dẫn các hiệp ước mà chính phủ của họ ký kết, trong khi người bị tước đoạt không có đối tác để kiện, không có công cụ để thực thi. Cấu trúc pháp lý được xây dựng để công nhận một loại mất mát chứ không phải loại khác.
Tháng 4/2009, nông dân Hà Lan đã kiện Zimbabwe lên Trung tâm Giải quyết Tranh chấp Đầu tư Quốc tế (ICSID) và hội đồng trọng tài ra lệnh bồi thường. Năm 2015, một hội đồng ICSID khác ra phán quyết có lợi cho nguyên đơn châu Âu liên quan đến lợi ích Thụy Sĩ và Đức. Trong khi đó, tổ tiên của tác giả bài viết, sống trong khu bảo tồn Seke từ năm 1899, đã chết không đất, không gia súc, bị gạt ra ngoài lề lịch sử.
Quá trình tái hội nhập nợ của Zimbabwe gắn với thanh toán nợ quá hạn, cải cách kinh tế và giải quyết tranh chấp đất đai. Việc khôi phục yêu sách của châu Âu được bảo vệ theo hiệp ước gắn liền với nỗ lực của Zimbabwe nhằm lấy lại khả năng tiếp cận tài chính quốc tế. Các thỏa thuận bồi thường và bảo vệ nhà đầu tư được trình bày như bằng chứng cho thấy Zimbabwe đang trở nên quản trị tốt và an toàn hơn.
Chương trình cải cách ruộng đất cấp tốc năm 2000 gây ra gián đoạn kinh tế và bạo lực đối với công nhân nông trại da đen, nông dân da trắng và người ủng hộ phe đối lập. Những thất bại đó không xóa bỏ lịch sử trộm cắp đất đai khiến tái phân phối trở thành vấn đề chính trị trung tâm. Sự va chạm chưa được giải quyết giữa hệ thống sở hữu thuộc địa và yêu sách đền bù của người châu Phi vượt ra ngoài Zimbabwe, đến các thuộc địa cũ khác như Namibia, nơi người da đen phải chịu tước đoạt đất đai hàng loạt mà không được bồi thường.
Tịch thu đất thuộc địa bị coi là lịch sử nền bất tiện, trong khi nỗ lực tái cấu trúc quyền sở hữu hậu thuộc địa bị xem là mối đe dọa đối với thị trường và niềm tin nhà đầu tư. Cải cách ruộng đất cần hợp pháp, có trách nhiệm và hiệu quả kinh tế, nhưng luật pháp quốc tế không thể coi quyền sở hữu tạo ra thông qua chủ nghĩa thực dân định cư là bất khả xâm phạm trong khi bác bỏ bồi thường cho người châu Phi là nguy hiểm.
67 trang trại là tàn tích của một tội ác thuộc địa cũ chưa được giải quyết. Người dân Zimbabwe vẫn đang chờ đợi công lý.