Vì sao nông sản Ấn Độ liên tiếp bị các nước 'tuýt còi'?
Al Jazeera English
Nông sản Ấn Độ đang đối mặt với làn sóng bị các thị trường lớn như Nhật Bản, Trung Quốc và châu Âu 'tuýt còi' vì lo ngại về chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc. Các vụ việc liên tiếp từ xoài, gạo đến gia vị đã phơi bày những lỗ hổng trong hệ thống chứng nhận và kiểm nghiệm của nước này, đặt ra bài toán lớn cho ngành nông nghiệp. Nông dân và doanh nghiệp xuất khẩu Ấn Độ đang gánh chịu hậu quả trước thách thức cạnh tranh ngày càng gay gắt từ Thái Lan, Việt Nam và Brazil.
New Delhi, Ấn Độ – Cơ sở xử lý nhiệt bằng hơi nước (VHT) tại làng Rehmanpur, ngoại ô Lucknow, thủ phủ bang Uttar Pradesh – nơi dùng để khử trùng rau quả – đang chuẩn bị cho thời điểm bận rộn nhất trong năm thì các thanh tra kiểm dịch Nhật Bản bất ngờ đến vào tháng 3.
Mọi giấy tờ xuất khẩu đã được thông qua, lịch vận chuyển đã chốt, và nông dân trồng xoài ở các bang phía tây Maharashtra và Gujarat đã dành những trái xoài Alphonso và Kesar ngon nhất để xuất sang Nhật – một trong những thị trường cao cấp của châu Á.
Mọi thứ có vẻ sẵn sàng cho mùa vụ mới thì sản xuất bỗng dưng ngừng trệ. Các thanh tra viên Nhật Bản khi rà soát quy trình xông hơi, khử trùng và chứng nhận đã bày tỏ quan ngại, khiến Nhật Bản tạm dừng nhập khẩu xoài Ấn Độ.
Ngày 31/3, cơ quan bảo vệ thực vật tại Yokohama đã gửi công văn chính thức, nói rằng mọi lô xoài Ấn Độ mang giấy chứng nhận kiểm dịch cấp từ ngày 25/3 sẽ bị từ chối nhập cảnh cho đến khi các thanh tra viên xác nhận các tiêu chuẩn vận hành được cải thiện. Đây là lần gián đoạn lớn đầu tiên trong giao thương xoài Ấn-Nhật gần hai thập kỷ. Năm 1986, xoài Ấn Độ từng bị cấm nhập khẩu vì lo ngại ruồi đục quả. Lệnh cấm chỉ được dỡ bỏ năm 2006 sau khi nước này xây dựng cơ sở hạ tầng VHT, tăng cường giám sát dịch hại và đồng ý để Nhật kiểm tra hằng năm.
Việc ngừng nhập khẩu năm 2026 này ảnh hưởng đến sáu giống xoài được phép xuất khẩu – Alphonso, Kesar, Langra, Banganapalli, Chausa và Mallika – trong giai đoạn cao điểm xuất khẩu từ tháng 4 đến tháng 6.
Nhật Bản đã nhập khoảng 1,54 triệu USD xoài tươi và chế biến từ Ấn Độ trong giai đoạn 2025–2026. Con số này có vẻ khiêm tốn, nhưng thị trường Nhật có ý nghĩa rất lớn với thương mại toàn cầu. Nhật trả giá cao cho xoài, và sự chấp thuận của nước này được xem như một tín hiệu chất lượng cho phần còn lại của thế giới.
Việc đình chỉ nhập khẩu đến vào thời điểm vốn đã khó khăn với nông dân trồng xoài Ấn Độ. Nắng nóng kéo dài qua vùng Konkan đã phá hủy phần lớn vụ xoài Alphonso ở Maharashtra. Bất ổn địa chính trị ở Tây Á đẩy chi phí vận chuyển tăng cao, và những nhà xuất khẩu đã dành nhiều năm xây dựng quan hệ với đối tác Nhật bỗng dưng đối mặt với hợp đồng bị hủy và hàng tồn kho hư hỏng trong kho lạnh.
Vikram Shah, một nhà xuất khẩu tại Mumbai, đã gửi khoảng 2,5 tấn xoài sang Nhật năm 2025. Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của thị trường này. “Nhật không bao giờ là thị trường lớn nhất của chúng tôi, nhưng là thị trường mang lại uy tín. Chúng tôi mất sáu năm để xây dựng niềm tin với người mua ở đó. Tôi đã đến Osaka hai lần, ngồi với các nhà nhập khẩu, tham quan cơ sở kho lạnh của họ và học chính xác những gì họ kỳ vọng. Những mối quan hệ như vậy mất nhiều năm để xây dựng và có thể biến mất chỉ trong một mùa vụ.”
Rajesh Patil, một nông dân trồng xoài Alphonso ở Ratnagiri, Maharashtra, cho biết gia đình ông đã canh tác trên khu vườn rộng 1,2 ha dọc bờ biển Konkan hai thế hệ. Thị trường Nhật luôn trả giá cao hơn hẳn so với bán đấu giá trong nước, nên ông đã đầu tư nhiều để đáp ứng tiêu chuẩn nhập khẩu nghiêm ngặt của Nhật. Ông chi gần 1.840 USD cho thiết bị phân loại và xử lý, tham dự các khóa tập huấn về quản lý dịch hại, thay đổi cách thu hoạch và đóng gói. “Thị trường Nhật trả gần gấp đôi so với trong nước. Khi bạn đầu tư như vậy, bạn kỳ vọng hệ thống hỗ trợ xuất khẩu cũng đáng tin cậy như chính trái cây mình trồng.”
Trung Quốc phản đối gạo
Ngày 17/4, Trung Quốc đã thu hồi giấy phép nhập khẩu của ba nhà xuất khẩu gạo Ấn Độ, sau khi Tổng cục Hải quan nước này từ chối lô hàng với lý do phát hiện dấu vết sinh vật biến đổi gen (GMO). Các nhà xuất khẩu bác bỏ kết luận này, chỉ ra rằng lô hàng của họ có chứng nhận không GMO trước khi rời cảng và chính phủ Ấn Độ cũng khẳng định toàn bộ diện tích lúa trong nước không có biến đổi gen.
Gạo chiếm hơn 20% kim ngạch xuất khẩu nông sản của Ấn Độ, với mức kỷ lục 12,5 tỷ USD trong năm tài chính vừa qua (2025–2026). Ba nhà xuất khẩu bị đình chỉ hiện đối mặt với việc khó quay lại thị trường Trung Quốc, gây rúng động trong cộng đồng.
Cơ quan Phát triển Xuất khẩu Nông sản và Thực phẩm Chế biến (APEDA) thuộc Bộ Thương mại và Công nghiệp Ấn Độ đã thông báo cho các công ty và ngày 8/6 công bố danh sách các phòng thí nghiệm được phê duyệt để xét nghiệm GMO cho các lô hàng xuất khẩu sang Trung Quốc.
SK Singh, một nhà khoa học nông nghiệp tại New Delhi, cho rằng vụ việc phơi bày điểm yếu trong hệ thống kiểm nghiệm của Ấn Độ. “Phòng thí nghiệm của chúng tôi giỏi xét nghiệm dư lượng thuốc trừ sâu và aflatoxin vì đó là tiêu chuẩn mà hầu hết thị trường yêu cầu. Nhu cầu xác minh GMO của Trung Quốc đòi hỏi năng lực ở quy mô khác.” Chứng chỉ của các nhà xuất khẩu đến từ các phòng thí nghiệm được công nhận, nhưng mạng lưới chứng nhận vẫn chưa đồng đều. Chỉ có một vài cơ sở tập trung ở New Delhi và Hyderabad chạy xét nghiệm phân tích protein cần thiết, buộc các nhà xuất khẩu ở Punjab và Haryana phải gửi mẫu đi hàng trăm km.
Chuỗi cung ứng manh mún
Đã có những dấu hiệu cảnh báo trước khi khủng hoảng xoài và gạo xảy ra. Hồng Kông đình chỉ nhiều sản phẩm gia vị của Ấn Độ vì dư lượng thuốc trừ sâu, và kiểm nghiệm phát hiện sai lệch chất lượng ở gần 12% số mẫu. Liên minh châu Âu cũng tăng tần suất kiểm tra thì là Ấn Độ lên 30% từ tháng 1/2025, sau 312 cảnh báo về gia vị trên hệ thống cảnh báo nhanh của khối trong năm 2024.
Ananya Bose, một nhà khoa học an toàn thực phẩm ở Kochi, Kerala, chỉ ra vấn đề nằm ở chuỗi cung ứng manh mún. “Nông dân bán cho người thu gom, người thu gom bán cho thương lái, thương lái cung cấp cho nhà chế biến. Ở đâu đó trong chuỗi đó, ghi chép về việc phun thuốc biến mất. Dấu vết chi tiết cho đến lần bán đầu tiên, sau đó gần như chấm dứt.”
Bose đề nghị áp dụng bắt buộc hồ sơ điện tử về thuốc trừ sâu, vì các cơ quan quản lý nước ngoài yêu cầu truy xuất nguồn gốc từ đồng ruộng đến lô hàng, một tiêu chuẩn mà nhiều bang vẫn coi là tự nguyện.
Những trở ngại này có thể được xem là sự cố riêng lẻ, nhưng chúng làm lộ ra khoảng cách giữa sức mạnh nông nghiệp của Ấn Độ và các tiêu chuẩn truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và chứng nhận mà Nhật Bản, EU, Anh, Mỹ và Canada đang yêu cầu. Các tiêu chuẩn này được thắt chặt bởi áp lực người tiêu dùng về minh bạch, lo ngại dịch hại do biến đổi khí hậu, chiến lược an ninh lương thực và đại dịch COVID-19.
Trong khi đó, các đối thủ cạnh tranh đã đi nhanh hơn, với Thái Lan xây dựng chương trình truy xuất nguồn gốc toàn quốc, Việt Nam đầu tư đào tạo nông dân, và Brazil, Chile đổ tiền vào hệ thống chuỗi lạnh.
Tiến bộ của Ấn Độ còn chậm, chỉ có 207 nhà đóng gói đăng ký, 72% tập trung ở Maharashtra. Cơ sở kho lạnh khan hiếm và chi phí logistics chiếm khoảng 15% giá trị xuất khẩu, gần gấp đôi các nước phát triển. Nông dân sở hữu dưới 2 ha chiếm hơn 86% số người canh tác, khiến việc chuẩn hóa ở quy mô lớn trở nên khó khăn.
Anil Gupta, một nhà kinh tế nông nghiệp, nhận định: “Ấn Độ xây dựng chiến lược tập trung sản xuất nhiều hơn, trong khi các thị trường cao cấp lại khen thưởng việc chứng minh chất lượng trong suốt quá trình.” Ông ghi nhận những cải thiện thực tế: số phòng thí nghiệm được công nhận tăng từ 22 lên 89 trong thập kỷ qua, số lượng chứng nhận xuất khẩu được phê duyệt tăng từ khoảng 61.000 lên hơn 170.000. “Tiến bộ là đo lường được, nhưng quy mô thách thức cũng lớn. Những cải thiện này mới chỉ là khởi đầu, còn xa mới về đích.”
Ujjwal Kumar Ghosh, một quan chức cấp cao của Bộ Thương mại, kêu gọi kiểm soát chặt hơn dư lượng kháng sinh, thuốc trừ sâu và aflatoxin trong gia vị, trà, rau quả. Ông cho biết đã có ngân sách nâng cấp phòng thí nghiệm, nhưng không nêu thời hạn cụ thể.
Ấn Độ hiện chỉ chiếm 2,4% xuất khẩu nông sản toàn cầu dù là nước sản xuất nông nghiệp lớn thứ hai thế giới. Tỷ lệ hàng nông sản chế biến mới chỉ khoảng 17%, trong khi con số này là 25% ở Mỹ và 50% ở Trung Quốc.
Nông dân đang gánh chịu hậu quả. Nông dân trồng xoài Kesar ở Gujarat mất người mua Nhật lớn nhất. Một nông dân trồng lúa basmati ở Karnal, Haryana, cho biết giá lúa tại địa phương đã giảm 8%. Một nhà chế biến nghệ ở Erode, Kerala, nói chi phí xét nghiệm dư lượng đã tiêu tốn gần 157 USD trong quý trước, gần 10% lợi nhuận.
Nông nghiệp vẫn tạo việc làm cho khoảng 42% lực lượng lao động Ấn Độ, nhưng chỉ đóng góp chưa đầy 1/5 GDP quốc gia.
“Điều này không chỉ đơn thuần là vài lô hàng bị trả về. Các quốc gia thành công sẽ là những nước liên tục đáp ứng tiêu chuẩn mà người mua toàn cầu yêu cầu”, Gupta nói. Nông dân Ấn Độ từ lâu đã chứng minh họ có thể trồng trọt phục vụ thế giới. Nhiệm vụ hiện nay là xây dựng hệ thống để thuyết phục thế giới tiếp tục mua hàng.