Tôn giáo cực đoan đang định hình lại Israel từ bên trong
Ehab Jabareen
Các thế lực tôn giáo cực đoan và dân tộc chủ nghĩa tôn giáo tại Israel đang gia tăng ảnh hưởng chính trị, tái định hình các thể chế nhà nước, thu hẹp quyền tự do và làm sâu sắc thêm bất bình đẳng. Dù không lật đổ nền dân chủ, họ đang âm thầm thay đổi các quy tắc về quyền công dân, bình đẳng và tự do cá nhân ngay trong lòng xã hội.
Tại Israel, các thế lực siêu Chính thống (Haredi) và tôn giáo-dân tộc chủ nghĩa đang ngày càng có ảnh hưởng chính trị lớn đối với những vấn đề vượt xa phạm vi cử tri truyền thống của họ: phân biệt giới tính, giáo dục tôn giáo, thẩm quyền của các giáo sĩ Do Thái giáo, mối quan hệ giữa luật tôn giáo và luật dân sự, cũng như ý nghĩa gắn với việc định cư và kiểm soát lãnh thổ.
Sự trỗi dậy của các lực lượng này đặt ra câu hỏi rộng hơn về chủ nghĩa chính thống tôn giáo và quyền lực dân chủ: điều gì xảy ra khi các lực lượng chính thống không cần lật đổ nhà nước mà có thể sử dụng các thể chế hiện có để định hình lại nó từ bên trong?
Khác với Taliban lên nắm quyền ở Afghanistan bằng vũ lực, các lực lượng tôn giáo tại Israel hoạt động thông qua bầu cử, chính trị liên minh và các thể chế nhà nước. Câu hỏi đặt ra là “Taliban Do Thái” trỗi dậy sẽ trông như thế nào.
Hãy hình dung Tel Aviv vài năm tới: các quán cà phê vẫn mở cửa, phụ nữ vẫn đi lại trên đường phố, bầu cử vẫn diễn ra, Quốc hội (Knesset) vẫn họp, Tòa án Tối cao vẫn hoạt động, không có lực lượng dân quân tôn giáo nào đảo chính. Nhưng điều gì đó sâu sắc hơn đã thay đổi: không gian phân chia nam nữ ngày càng mở rộng với lý do tôn trọng công chúng tôn giáo; các trường tôn giáo nhận nhiều tiền công hơn trong khi không bị ràng buộc thực sự phải dạy khoa học, toán hay tiếng Anh; các yêu cầu tôn giáo có trọng lượng lớn hơn trong đời sống công cộng, và ranh giới tự do cá nhân ngày càng bị vẽ theo tầm nhìn tôn giáo-dân tộc về nhà nước.
Sự chuyển dịch này không diễn ra trong một nhà nước thế tục hay một trật tự chính trị bình đẳng. Israel được thành lập như một nhà nước Do Thái, trong khi người Palestine chưa từng được hưởng bình đẳng trong hệ thống chính trị mà nhà nước này tạo ra. Tôn giáo từ lâu đã định hình hôn nhân, ly hôn, cải đạo, ngày Sabbath và sự công nhận danh tính Do Thái.
Điều đang thay đổi là quyền lực ngày càng tăng của các lực lượng tôn giáo và tôn giáo-dân tộc chủ nghĩa trong việc định nghĩa đặc tính Do Thái của nhà nước theo hướng tôn giáo rõ ràng hơn, cả trong đời sống công cộng lẫn trong các tuyên bố về đất đai và chủ quyền.
Knesset hiện tại có nhiều đảng Haredi và tôn giáo-dân tộc chủ nghĩa: Shas, Do Thái giáo Thống nhất Torah, Chủ nghĩa Phục quốc Tôn giáo, Otzma Yehudit và Noam. Họ không phải là một khối thống nhất. Các đảng Haredi tập trung chủ yếu vào sự độc lập của giáo dục tôn giáo, miễn trừ nghĩa vụ quân sự, ngân sách và các thể chế tôn giáo. Chủ nghĩa Phục quốc Tôn giáo và phe Kahanist kết hợp tôn giáo với chủ nghĩa dân tộc, định cư, chiến tranh và kiểm soát đất đai. Dù khác biệt, trọng lượng ngày càng lớn của họ trong chính trị liên minh đã đưa nhiều yêu cầu tôn giáo rộng rãi vào trung tâm chính sách nhà nước.
Đối với người Palestine, bước ngoặt tôn giáo không tạo ra sự bất bình đẳng mà họ phải đối mặt; nó đưa sự hợp pháp hóa tôn giáo vào một trật tự dân tộc-chính trị hiện có. Khi các tuyên bố quốc gia về đất đai và chủ quyền hòa trộn với niềm tin rằng việc người Do Thái kiểm soát đất đai là thực hiện lời hứa thiêng liêng, người Palestine không chỉ bị coi là vấn đề nhân khẩu học hay an ninh, mà ngày càng là chướng ngại cho một tầm nhìn tôn giáo-dân tộc về chủ quyền.
Sự bất bình đẳng vốn đã hiện hữu ở sa mạc Negev, nơi các ngôi làng và nhà cửa bị phá hủy, cộng đồng Bedouin bị cưỡng bức di dời, và hệ thống quy hoạch từ chối cho các thị trấn Ả Rập không gian phát triển như các thị trấn Do Thái. Ở Bờ Tây bị chiếm đóng, sự hội tụ giữa bất bình đẳng hiện có và quyền lực tôn giáo-dân tộc chủ nghĩa càng rõ ràng hơn. Chính sách định cư, quyền lực của người định cư và học thuyết tôn giáo ngày càng củng cố lẫn nhau, khiến chính sách chiếm đóng vì an ninh và định cư như một học thuyết cứu rỗi hòa làm một dự án duy nhất.
Khung tôn giáo này cũng khiến việc thỏa hiệp lãnh thổ khó hợp pháp hóa hơn. Khi việc kiểm soát đất đai được trình bày như thực hiện lời hứa thiêng liêng, việc rút quân có thể bị coi không chỉ là lựa chọn chính trị hay chiến lược, mà là sự đầu hàng một thứ mà không chính phủ nào có quyền từ bỏ.
Quyền lực tôn giáo cũng đang định hình lại các điều kiện của đời sống công cộng trong xã hội Do Thái Israel. Phân biệt giới tính là một ví dụ. Sự mở rộng của nó thường được trình bày không phải là hạn chế tự do cá nhân, mà là sự nhượng bộ cho tự do tôn giáo. Việc tách nam nữ trở thành “sự thích ứng văn hóa”. Hạn chế phụ nữ ở một số không gian trở thành “bảo vệ tự do của người tôn giáo”.
Cách diễn giải này chuyển hướng câu hỏi. Khi phụ nữ bị yêu cầu ngồi phía sau, hoặc sự tham gia của họ bị hạn chế trong một buổi lễ, một thể chế hay một chương trình học thuật, cuộc tranh luận thường tập trung vào việc nhà nước nên nhượng bộ đến đâu để đáp ứng nhu cầu của công chúng tôn giáo. Vấn đề vẫn còn gây tranh cãi tại tòa án và trong xã hội. Phân biệt giới tính chưa trở thành quy tắc chung, nhưng thực tế là những yêu cầu này đã từ rìa xã hội đi vào luật pháp, trường đại học, quân đội và các thể chế công cộng cho thấy cán cân quyền lực đã thay đổi. Tháng 7/2026, Knesset đã thông qua luật mở rộng việc tách biệt giới tính trong giáo dục đại học tới các chương trình sau đại học.
Giáo dục cũng đặt ra câu hỏi tương tự về cân bằng giữa tự trị tôn giáo và nghĩa vụ công dân chung. Nhà nước tài trợ cho một hệ thống giáo dục Haredi rộng lớn trong khi cuộc tranh luận về việc các trường này có dạy các môn cơ bản hay không vẫn kéo dài. Tiền công tiếp tục hỗ trợ các bộ phận của hệ thống trường Haredi không bị yêu cầu dạy chương trình giáo dục phổ thông cốt lõi đầy đủ. Vấn đề không đơn thuần là cộng đồng Haredi có nên được tự do giáo dục con em theo niềm tin của họ, mà là nhà nước có thể yêu cầu điều gì một cách hợp lý để đổi lại việc tài trợ đó.
Sự hội tụ giữa hệ tư tưởng tôn giáo-dân tộc chủ nghĩa, kiểm soát lãnh thổ và quyền lực nhà nước ngày càng hiện hữu trong quân đội Israel. Ảnh hưởng của Chủ nghĩa Phục quốc Tôn giáo đã tăng lên trong các hàng ngũ chiến đấu và chỉ huy. Trong nhiều năm, đã có tranh luận về việc sử dụng ngôn ngữ tôn giáo để động viên binh lính và về căng thẳng giữa mệnh lệnh quân đội và thẩm quyền của giáo sĩ, đặc biệt khi vấn đề là di dời khu định cư hay giữ đất.
Vấn đề không phải là liệu binh lính tôn giáo cá nhân có nghe theo giáo sĩ thay vì chỉ huy hay không. Đó là sự chồng lấn ngày càng tăng giữa sức mạnh quân sự, kiểm soát lãnh thổ và hệ tư tưởng tôn giáo-dân tộc chủ nghĩa coi việc kiểm soát đất đai không chỉ là mục tiêu chính trị hay chiến lược. Khi chiến tranh được đóng khung như một giai đoạn trong sự cứu rỗi tôn giáo hoặc sự thu hồi đất đai mà Chúa đã hứa, thỏa hiệp bắt đầu trông giống sự yếu đuối, rút quân giống như tội lỗi, và giải pháp chính trị giống như đầu hàng một thứ thiêng liêng mà chính trị gia chưa bao giờ sở hữu.
Ở mức hệ quả nhất, chủ nghĩa chính thống có thể đẩy các mục tiêu chính trị ra ngoài phạm vi thương lượng thông thường bằng cách đặt thẩm quyền không chỉ ở ý chí của công dân hay chính phủ, mà ở một ý chí thiêng liêng mà một bên tự tuyên bố quyền giải thích.
Sự tồn tại của các đảng tôn giáo tất nhiên không đủ để nói Israel đã trở thành một nhà nước thần quyền. Tòa án, báo chí tự do, phe đối lập, xã hội dân sự và một công chúng thế tục rộng lớn vẫn còn. Các yêu cầu tôn giáo vẫn gặp sự phản kháng tại tòa án và trong chính xã hội Israel. Nhưng các nền dân chủ không phải lúc nào cũng sụp đổ trong một ngày. Đôi khi bầu cử vẫn diễn ra trong khi các quy tắc âm thầm thay đổi: các quy tắc về ai được coi là công dân đầy đủ, tự do kết thúc ở đâu, và ai có quyền định nghĩa lợi ích chung.
Israel không cần xóa bỏ bầu cử, đóng cửa tòa án hay bỗng nhiên giống Afghanistan dưới thời Taliban để chủ nghĩa chính thống tôn giáo định hình lại nhà nước. Các quán cà phê ở Tel Aviv có thể vẫn mở. Bầu cử có thể tiếp tục. Các khu vực cử tri thế tục và tự do mạnh mẽ có thể tồn tại. Các thể chế dân chủ chính thức có thể sống sót trong khi ý nghĩa của quyền công dân, bình đẳng và tự do cá nhân thay đổi bên dưới chúng, và trong khi một trật tự vốn đã bất bình đẳng và áp bức đối với người Palestine bị củng cố thêm khi các tuyên bố tôn giáo về đất đai và chủ quyền giành được sức mạnh chính trị lớn hơn.
Câu hỏi không chỉ là liệu các thể chế dân chủ có tồn tại, mà là chúng được sử dụng để duy trì loại trật tự chính trị nào. Dân chủ cho ai, và theo điều kiện của ai?